Thứ Năm, 11 tháng 9, 2014

Lập luận chủ quyền vô căn cứ của Bắc Kinh- góc nhìn từ phương tây

Một loạt các hành động của chính quyền Việt Nam và Pháp kể từ thế kỷ 18 đã đưa ra bằng chứng không thể chối cãi rằng Việt Nam đã quản lý trên thực tế, liên tục, và hòa bình quần đảo Hoàng Sa.

LTS: Tờ National Interest mới đây đăng tải một bài viết phân tích những điểm bất hợp lý trong đòi hỏi chủ quyền của TQ trên biển Đông, từ góc dữ liệu lịch sử và luật pháp. Xin trân trọng giới thiệu tiếp phần hai của tư liệu này, như góc nhìn tham chiếu trong cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền của VN.

Vi phạm rõ ràng Hiến chương Liên hợp quốc
Trung Quốc cũng tuyên bố rằng chủ quyền của họ với các đảo trên biển Đông được công nhận trong quá trình thảo luận hiệp ước hòa bình với Nhật vào năm 1951. Tuy nhiên, văn bản cuối cùng của hiệp ước đưa việc từ bỏ quyền của Nhật Bản ở Đài Loan và Bành Hồ, và Hoàng Sa - Trường Sa, ra làm hai đoạn văn bản khác nhau ở Điều 2. Do đó, Nhật Bản có lẽ đã từ bỏ quyền ở Đài Loan và Bành Hồ cho Trung Quốc và Hoàng Sa - Trường Sa cho Pháp. Nếu những người soạn hiệp ước muốn trao trả lại các quần đảo trên chỉ cho một quốc gia, họ đã không đưa điều trên vào trong hai đoạn văn bản riêng rẽ như vậy.
Luận điểm của Bắc Kinh rằng Nhật Bản trả lại Hoàng Sa - Trường Sa trong hai hiệp định chấm dứt sự thù địch giữa hai nước cũng không tồn tại. Điều 2 của Hiệp ước Đài Loan - Nhật Bản năm 1952 chỉ đơn giản nói rằng Nhật Bản từ bỏ quyền với Đài Loan, Bành Hồ, và các quần đảo trên biển Đông. Nếu mục đích của hiệp ước là chuyển giao Hoàng Sa - Trường Sa cho Đài Loan, thì nó đã được ghi rõ trong hiệp ước.
Tương tự, Tuyên bố chung Trung Quốc - Nhật Bản năm 1972 cũng không ủng hộ quan điểm của Bắc Kinh.
Tuyên bố chỉ nói rằng Điều 8 trong Tuyên bố Potsdam được áp dụng. Tuy thế, cả Tuyên bố Potsdam và Tuyên bố Cairo đều không ủng hộ quan điểm của Trung Quốc về chủ quyền đối với các quần đảo trên biển Đông.

Trung Quốc cũng bảo lưu quan điểm không chính xác rằng họ đã giành lại quyền kiểm soát Hoàng Sa - Trường Sa vào năm 1946 khi lực lượng Quốc dân đảng chấp nhận việc đầu hàng của quân Nhật tại Đông Dương từ vĩ tuyến 16 trở lên. Quân Quốc dân đảng đã được điều ra đảo Ba Bình (Trường Sa) và Phú Lâm (Hoàng Sa) với tư cách là lực lượng chiếm đóng theo Mệnh lệnh số 1 của tướng MacArthur.
Tuy thế, mệnh lệnh này không chuyển nhượng các quần đảo này cho Trung Quốc. Trái lại, Cộng hòa Trung Quốc và Pháp đồng ý rằng quân Pháp sẽ thay thế quân Quốc dân đảng chiếm đóng miền bắc Đông Dương, bao gồm cả Hoàng Sa và Trường Sa, vào ngày 31/3/1946. Với tư cách là lực lượng chiếm đóng, quân Quốc dân đảng có nghĩa vụ theo luật phải rời khỏi Đông Dương, tuy vậy họ đã không thực hiện.
Việc lực lượng Trung Quốc ở lại đảo Ba Bình và Phú Lâm một cách bất hợp pháp, sau khi nhiệm vụ chiếm đóng của quân Đồng minh ở Đông Dương kết thúc vào tháng 3/1946, là một sự vi phạm rõ ràng Điều 2 (4) của Hiến chương Liên hiệp quốc, và do đó, không phải là lý do để Trung Quốc chiếm hữu hai quần đảo này.

Đảo Phú Lâm thuộc quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam đang bị Trung Quốc chiếm đóng trái phép
Đảo Phú Lâm thuộc quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam đang bị Trung Quốc chiếm đóng trái phép

Tương tự, việc Đài Loan chiếm đảo Ba Bình vào năm 1956, cũng như việc Trung Quốc chiếm quần đảo Hoàng Sa vào năm 1954 và một vài đảo nhỏ thuộc Trường Sa năm 1988 và 1995 bằng vũ lực, là vi phạm Hiến chương Liên hợp quốc và do vậy không đưa ra lý lẽ hợp pháp nào để họ sở hữu quần đảo.
Bắc Kinh cũng tuyên bố rằng Bắc Việt Nam từ bỏ quyền sở hữu với các đảo thuộc biển Đông vào những năm 1950 và 1960. Tuy vậy, sự phụ thuộc của Trung Quốc vào những tuyên bố này là có khá nhiều vấn đề. Quan trọng nhất đó là việc Bắc Việt Nam không có gì để từ bỏ vào những khoảng thời gian này.
Hiệp định Geneva chia cắt Bắc - Nam Việt Nam tại vĩ tuyến 17, trong đó cả hai quần đảo Hoàng Sa - Trường Sa đều thuộc miền Nam. Là quốc gia thừa kế vị trí của nước Pháp, Nam Việt Nam do vậy được quyền quản lý các quần đảo Hoàng Sa - Trường Sa, chứ không phải là Bắc Việt Nam.
Dựa vào những chứng cứ đưa ra bởi các bên cũng như nguyên tắc căn bản của luật quốc tế liên quan đến sáp nhập lãnh thổ, quan điểm về chủ quyền của Việt Nam rõ ràng là có trọng lượng hơn Trung Quốc.

Bằng chứng không thể chối cãi của Việt Nam
Một loạt các hành động của chính quyền Việt Nam và Pháp kể từ thế kỷ 18 đã đưa ra bằng chứng không thể chối cãi rằng Việt Nam đã quản lý trên thực tế, liên tục, và hòa bình quần đảo Hoàng Sa.
Chủ quyền Việt Nam trên quần đảo này được xác lập đầu tiên vào thế kỷ 18 bởi Biệt đội Hoàng Sa được nhà nước tài trợ, sau này được phong thánh bởi hoàng đế Gia Long và Minh Mạng trong thế kỷ 19. Chủ quyền này cũng được người Pháp giả định một cách tạm thời vào cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20, và tiếp tục được quản lý công khai, hòa bình, và bình thường bởi một nước Nam Việt Nam độc lập sau khi quân Pháp rút khỏi Đông Dương vào năm 1956, và bởi nước Việt Nam thống nhất sau năm 1976.
Tương tự, nước Pháp, với danh nghĩa đại diện cho Việt Nam, đã thực thi một loạt hành động khẳng định chủ quyền của Pháp trên Trường Sa, đặc biệt là việc họ chính thức sáp nhập và chiếm giữ quần đảo này vào năm 1933. Tại thời điểm đó, việc sáp nhập quần đảo theo nguyên tắc vô chủ đã tuân thủ nghiêm ngặt quy định hiện hành của luật quốc tế và nguyên tắc hành xử quốc gia khi đó.

Anh Quốc, vốn quản lý một vài đảo thuộc Trường Sa vào những năm 1800, đã từ bỏ đòi hỏi chủ quyền của mình sau khi Pháp sáp nhập, vì thế chủ quyền của Pháp với Trường Sa đã được thiết lập một cách hợp pháp và hợp lý. Vì vậy, hành động của Việt Nam và Pháp rõ ràng đã chứng tỏ sự hiện diện thực tế và liên tục, cũng như thực hiện quyền chủ quyền một cách hòa bình trên quần đảo Trường Sa.

Quyền chủ quyền của Pháp với quần đảo này đã được nhượng lại cho Nam Việt Nam vào những năm 1950 và chính quyền Nam Việt Nam (sau đó là nước Việt Nam thống nhất) đã quản lý thực tế Trường Sa cho đến khi Đài Loan chiếm giữ đảo Ba Bình một cách bất hợp pháp vào năm 1956, và Trung Quốc chiếm giữ một cách bất hợp pháp một số đảo nhỏ vào năm 1988.

Biển Đông là nơi có những tuyến vận tải và truyền thông đường biển quan trọng và chiến lược nhất thế giới. Giá trị thương mại đi qua khu vực này trị giá năm nghìn tỷ đô la, bao gồm một nửa lượng tàu chở dầu và hơn một nửa lượng tàu thương mại thế giới tính theo sức nặng. Hơn một nghìn tỷ USD trong đó là thương mại của Mỹ. Xung đột nếu xảy ra ở đây sẽ gây bất ổn kinh tế thế giới.

Thực tế và luật lệ đã rất rõ ràng: đòi hỏi của Trung Quốc là không có cơ sở và hành vi hung hăng của họ đang đe dọa hòa bình và an ninh khu vực. Động thái trung lập giả tạo sẽ chỉ khiến Bắc Kinh trở nên hung hăng hơn và giúp họ tiến một bước gần hơn để cướp đất trên các quần đảo thuộc biển Đông.
Theo Khắc Giang
Tuần Việt Nam/National Interest
*Tác giả bài viết, Đại úy (nghỉ hưu) Raul Pedrozo, từng là cố vấn quân pháp của lực lượng chỉ huy Thái Bình Dương của hải quân Mỹ.

Thứ Hai, 11 tháng 8, 2014

BẮC MÔN TOẢ THƯỢC

Bàn thêm về bốn chữ “Bắc môn tỏa thược” (鑰鎖門北)





Bàn thêm về bốn chữ “Bắc môn tỏa thược” (鑰鎖門北)




Ở cổng vào các  đền thờ thường có ghi những chữ Hán mà ta quen gọi là “đại tự”. Chẳng hạn như cổng lên đền Hùng là bốn chữ “Cao sơn cảnh hành” (高山景行- tạm dịch: đường lớn lên cao); cổng giữa đền Kiếp Bạc là “dữ thiên vô cực” (與天無極-tạm dịch: sánh cùng trời đất). Ngẫm nghĩ về những dòng chữ ấy ta sẽ thấy chúng chứa đựng những ý nghĩa rất sâu xa. “Cao sơn cảnh hành” có cái nghĩa thực là chỉ con đường to đi lên núi Nghĩa Cương mà hàng năm các vua Hùng vẫn lên đây làm lễ tế cáo trời đất để cầu cho quốc thái dân an; nhưng vẫn ngầm chứa một niềm tin sâu xa vào tương lai trường tồn và sáng tươi của dân tộc. Ở “dữ thiên vô cực”, nghĩa trực tiếp chỉ là lời đánh giá công lao cứu nước lớn lao của Trần Hưng Đạo, nhưng qua đây cũng thấy rõ tấm lòng của nhân dân đối những anh hùng cứu nước…
Ở cổng vào đền thờ vua Đinh tại cố đô Hoa Lư lại là bốn chữ “Bắc môn tỏa thược” (鑰鎖門北 – tạm dịch: khóa chặt cửa Bắc). Có lẽ đã là người Việt Nam thì ai cũng hiểu ý nghĩa sâu xa của những chữ này chính là một lời cảnh báo phải đặc biệt cảnh giác với giặc phương Bắc. Bởi đó là một kinh nghiệm lịch sử của dân tộc ta. Nhớ lại thời Âu Lạc, sau sự xụp đổ của An Dương Vương, đất nước rơi vào thời Bắc thuộc, nhân dân ta đã cay đắng rút ra bài học này trong truyền thuyết “Mỵ Châu Trọng Thủy”. Trải hơn nghìn năm nô lệ, sau chiến thắng của Ngô Quyền trên sông Bạch Đằng năm 938, lịch sử còn phải mất thêm 30 năm nữa, mãi đến năm 968, sau khi dẹp xong loạn 12 xứ quân, Đinh Bộ Lĩnh mới là người đầu tiên xây dựng được một nhà nước độc lập. Có thể nói tư tưởng “khóa chặt cửa Bắc” đã có trong tâm thức của người Việt Nam từ lâu, nhưng hiện lên thành câu chữ và đặt nó ở cổng đền thờ vua Đinh cũng là một lựa chọn đắc địa.

9/10/2012
Đỗ Đình Tuân
(Nguồn: http://dodinhtuan.blogspot.com)

HỌC NGHỀ CA HÁT

Bước khởi điểm của nghề ca sĩ

Trở thành một ca sĩ là một việc khó! Biết cách hát chỉ là một phần, công việc này còn yêu cầu sự tự tin và sự cống hiến để theo đuổi nghiệp cầm ca. Bạn cần phải lắng nghe “con tim” mách bảo..

Sáu bước cơ bản:

1 - Học kỹ thuật hát. Đây chính là bước khởi đầu cho nền móng sự nghiệp ca hát của bạn. Trong khi có một số người không thực sự hát hay, nhưng họ là những người có kỹ thuật hát và không ngừng cải thiện hình thức và khả năng của mình. Những người này được giới chuyên môn đánh giá cao nhất.

2 - Tìm hiểu những người ca sĩ mà bạn hâm mộ. Họ hát thế nào? Họ đã trở thành ca sĩ chuyên nghiệp như thế nào? Họ hát phục vụ cho lớp khán giả nào? Phong cách nổi bật của họ là gì? Đừng sao chép hoàn toàn, ca sĩ là phải “độc nhất vô nhị”!

3 - Bắt đầu tham gia các bài học luyện giọng. Việc có một người dạy thực sự sẽ có thể luyện được giọng cho bạn và nếu bạn luyện tập, bạn sẽ thấy tiến bộ rõ rệt trong thanh âm chỉ trong vòng một vài tuần. Luyện giọng rất quan trọng đối với sức bền và toàn bộ chất lượng giọng của bạn. Bạn cũng có thể lạc giọng nếu không hát đúng cách. Hãy tìm hiểu xem giọng bạn có thể hát được thoải mái nhất ở nốt nhạc nào và hát được nhiều.

4 - Trở nên thoải mái như một người biểu diễn. Vượt qua giai đoạn dè dặt, e sợ (nếu bạn có) và bắt đầu đạt được một vài kinh nghiệm thực tế bằng cách hát ở mọi nơi, mọi lúc bạn có cơ hội để hát trước một nhóm người (quán karaoke, tiệc, biểu diễn tài năng ở trường,…).

5
- Phát triển phong cách riêng. Thử nghiệm với những kiểu hát khác nhau và loại nhạc khác nhau, tìm ra một loại phù hợp với cá nhân bạn và phát huy giọng hát một cách tốt nhất. Bạn muốn mọi người có thể nhận ra giọng bạn khi họ nghe thấy.

6 - “Hành nghề” ca sĩ. Dù bạn hát hay thế nào, bạn cũng sẽ không bao giờ trở thành một ca sĩ thành công nếu bạn không thuyết phục được mọi người trả tiền để được nghe bạn hát. Điều đó có nghĩa là tham gia một nhóm nhạc, hát tại quán café gần nơi bạn ở, biểu diễn ở thành phố,.. hay thậm chí là thu đĩa để kinh doanh - mục đích của bạn là phải kiếm sống bằng nghề ca sĩ. Hãy bắt tay vào thực hiện ước mơ của mình!


Bí quyết

- Khi chọn nhạc karaoke, nên biết rằng bạn cần gây ấn tượng với khán giả trong 30 giây đầu tiên. Đừng chọn bài hát không phải là “tủ” của bạn trong những khoảnh khắc quyết định.

- Nhớ phải luôn là chính mình, điều này sẽ giúp bạn tạo ra màn trình diễn chân thực nhất khi đến lúc cần thể hiện giọng hát.

- Tìm ra niềm vui khi ca hát. Nếu bạn yêu ca hát, thì nó sẽ thể hiện ra ngay dù bạn hát hay thế nào.

- Tin tưởng vào bản thân và đừng cho rằng cái gì bạn cũng biết. Phải mất thời gian để cải thiện được âm thanh và giọng của bạn. Phải mất thời gian lâu hơn để thuyết phục mọi người rằng bạn tuyệt vời như thế nào.

- Luôn tự nhủ rằng mình là người tuyệt nhất. Bạn có thể nghe một ca sĩ khác, họ có thể bật giọng cao hơn bạn, hoặc cách hòa âm của họ hay như chim hót, nhưng đừng để sự đố kỵ lấn chiếm bạn. Cũng đừng làm mất sự tự tin. Tuy nhiên, hãy luôn nghĩ rằng, bạn là người tuyệt nhất.

- Luyện tập các bài hát ở nhà, trong phòng tắm, trong xe, bất kì đâu và bất kì lúc nào!

- Yêu cầu những thành viên trong gia đình giúp bạn qua những lời phê bình. Bạn cần đến nó và tận dụng nó để sửa chữa nếu mắc lỗi.

- Luôn uống nước hoặc các loại đồ uống tốt cho sức khỏe. Sô đa và cà phê có thể ảnh hưởng đến dây thanh âm của bạn, vì vậy đừng uống những đồ uống này ít nhất 24 tiếng trước khi biểu diễn. Nước là thứ bắt buộc ngay trước và sau khi diễn, nhưng để có kết quả tốt nhất, hãy uống mọi lúc, tuy nhiên phải đi vệ sinh trước và sau khi diễn (cẩn thận không được uống quá nhiều hoặc quá nhanh trước khi hát, điều đó có thể khiến bạn bị ợ hoặc cảm thấy đầy hơi).

- Đừng trở thành bản sao của bất kỳ ca sĩ nào. Hãy là chính bạn và hát theo phong cách của riêng mình.
Cảnh báo
- Việc đầu tư vào những bài học và sách vở về kỹ thuật thanh âm thực sự có thể giúp “cứu vãn” giọng của bạn. Có thể bạn có khả năng hát giọng nữ cao nhưng nếu bạn hát không đúng, có thể sẽ tổn hại đến giọng của bạn.

- Đừng tin rằng trở thành ca sĩ là một nghề ổn định… phải có kế hoạch phụ trong trường hợp nghề ca hát của bạn không còn tiếp tục được!

- Đừng quá buồn phiền nếu bạn không trở thành một ca sĩ nổi tiếng… có lẽ bạn sẽ thấy một việc gì đó khác mà bạn yêu thích!

- Biết rõ những hạn chế của mình, đặc biệt nếu bạn sắp tham gia vào một nhóm nhạc! Nếu bạn cảm thấy như sắp hết hơi, đừng e ngại cắt bỏ nốt nhạc ngắn đó, nhiều bài hát vẫn rất tuyệt.

Mình tìm cho bạn một vài bài tập luyện giọng đây:
Mở thanh quản (hay là mở họng): Để có thể hát cao hơn, bền hơn mà ko bị đau họng sau mỗi lần hát karaoke ta từng khổ sở với mấy bài sến. Sau khi lấy hơi để “lên” 1 đoạn nào đó bạn phải uốn lưỡi sao cho nó có hình chữ U khi nhìn vào. Thật ra tôi thấy cách tốt nhất để kiểm tra xem mình đã hát đúng hay chưa là nên tập trước Gương, soi vào đó mà thấy rõ cái hột gà và cái lưỡi nó lõm xuống thì tức là bạn mở họng đúng cách.
Khẩu hình: Tức là liên quan đến cách phát âm. Khi hát lời 1 bài, bạn phải mở rộng miệng, phát âm cố gắng sao cho rõ ràng từng chữ. Nếu bạn để ý, bạn sẽ nhận thấy các singer chuyên nghiệp như Lan Anh, Trọng Tấn… đều có khẩu hình rất chuẩn. Khi hát, bạn nên để ý 1 số điểm sau: Hàm dưới phải mềm, tránh căng cứng.
Dạy hát Karaoke Thế Bảo Music xin được mách bạn một số cách luyện giọng đơn giản sau:

1. Thổi nến – (tập thở):
Thắp 1 ngọn nến để cách xa khoảng 50 cm hoặc hơn (ngồi trong phòng kín gió). Lấy hơi sâu và thổi thật đều hơi sao cho ngọn nến nó rung đều hoặc nghiêng đi 1 góc cố định nào đó cho đến khi dứt hơi. Mục đích là để ta có thể lấy được hơi dài và điều chỉnh hơi đều. Vì thường thì khi sắp hết hơi thì độ mạnh của hơi thổi ra hay bị giảm nên phải cố gắng điều chỉnh làm sao để từ khi bắt đầu thổi đến khi ngắt là phải có 1 độ mạnh như nhau (ta có thể thấy được điều đó qua ngọn nến), khi dứt hơi là khi ko còn khả năng thổi mạnh như ban đầu nữa ấy (đoạn này là khó nhất, nhưng cũng là đoạn cần thiết nhất).

2. Ngụp nước: để luyện âm (“a” và ” i” thôi) để phát âm được hay và chuẩn
Luyện âm “a” là dễ nhất trong tất cả các âm . Và âm “i” đúng là cái loại khó nhất, tôi xin bổ xung thêm là âm i phải đẩy lên mũi thì ta sẽ hát được tốt và được tiếng đẹp hơn. Chính vì thế bài tập ngụp nước sẽ giúp chúng ta rất nhiều.
Lấy 1 chậu nước sạch, đặt lên ghế cao càng tốt để người ta khỏi bị gập quá khi ngụp. Hít 1 hơi thật sâu, ngụp mặt vào chậu nước (tai phải ở trên mặt nước) và bắt đầu nói hoặc hát từng câu mà có âm a và âm i. Âm a đơn giản bạn chỉ cần phát 1 hơi chữ “a” cũng được (Nhưng nên đi vào câu hát thì sẽ tốt hơn) sao cho bạn nghe được tiếng “a” đấy gần được như nghe “trên bờ” là đạt. Các bạn cứ thử dần dần rồi sẽ khám phá ra nhiều điều thú vị. Còn âm “i” cũng cách làm như vậy với câu hát nào có âm i ở cuối câu hay đơn giản tua đi tua lại từ “i” cũng được. Bạn sẽ biết là âm “i” có đẩy lên mũi không qua việc bóng khí sẽ thoát ra từ mũi bạn. Phải cố gắng và phải luyện đấy vì có thể bạn sẽ bị sặc nước vào mũi vì cách luyện tập này đấy. Chăm chỉ chiêu này thì khi hát, âm “i” của bạn cực đẹp. bạn cũng có thể dùng cách này để luyện cao độ (tăng dần tông lên), nói chung là cách này lợi hại lắm đó.

3. Luyện cao độ với đàn: gọi là luyện Mi – Ma
VD: Với đàn guitar, 3 nốt thấp nhất là Mì Fa Sol thì bạn tập như sau: đánh Són – Fa – Mì ; Són – Fa – Mì tương ứng với việc đánh như thế là phát âm Mí i ì ; Má a à. Sau đó lại tăng lên nửa cung và lặp lại mi ma như trên. Phải cố gắng đến mức cao nhất có thể. Tập với piano là tốt nhất.
Chú ý: Nên giữ họng cho tốt bằng cách vệ sinh răng miệng, dùng nước muối thì càng tốt. Tập sướng âm vào buổi sáng sớm là tốt nhất. Hút thuốc nhiều thì phá giọng ghê lắm.

Xem thêm các bài viết về kỹ thuật luyện thanh:
Nguồn: Trung tâm dạy hát Karaoke Thế Bảo
Website: http://thebao.com.vn

Chúc may mắn !

Thứ Hai, 7 tháng 7, 2014

ĐỊA VĂN HÓA

ĐỊA CHÍNH TRỊ VĂN HOÁ VỚI HỌC THUYẾT VỀ SỰ ĐỤNG ĐỘ GIỮA CÁC NỀN VĂN MINH (Trích sách "Địa chính trị...")
NGUYỄN VĂN DÂN
Văn hoá đã được quan tâm từ lâu, nhưng bộ môn văn hoá học mới được hình thành và phát triển từ thế kỷ XX. Từ đó người ta cũng bắt đầu quan tâm đến việc nghiên cứu vai trò của văn hoá trong các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội. Trong tinh thần đó, các nhà địa chính trị cũng bắt đầu quan tâm đến vai trò của văn hoá trong các khu vực địa chính trị thế giới. Người đầu tiên được coi là khởi xướng xu hướng này trong địa chính trị hiện đại là Samuel Huntington, tác giả của một lý thuyết có tên là “Sự đụng độ giữa các nền văn minh” trong thế giới hậu chiến tranh lạnh.
Tuy nhiên quan điểm của Huntington không phải là hoàn toàn mới. Theo các nhà nghiên cứu, quan điểm về sự đụng độ giữa các nền văn minh đã có mầm mống từ giữa thế kỷ XX. Chẳng hạn khi nói về các nền văn minh trên thế giới, nhà sử học nổi tiếng người Anh Arnold Toynbee đã nói đến những mâu thuẫn sâu xa “giữa nền văn minh phương Tây, với tư cách là phía xâm hấn, với các nền văn minh khác với tư cách là nạn nhân.” Toynbee đã đặc biệt lưu ý rằng: chủ nghĩa Mác, được sinh ra ở phương Tây và được cải hoá ở Nga, chính là hiện thân của sự “tự trừng phạt” của phương Tây, là “phát súng đầu tiên trong cuộc phản công lại phương Tây”. Và Toynbee viết tiếp: “Tuy nhiên, không loại trừ khả năng là loạt súng Nga dưới hình thức chủ nghĩa cộng sản đối với chúng ta là cái gì đó không đáng kể, khi mà các nền văn minh hùng mạnh hơn nhiều của Ấn Độ và Trung Quốc, đến lượt mình, đáp lại sự thách thức của phương Tây chúng ta.” (A. J. Toynbee, Nền văn minh trước toà án lịch sử, M. 1995, tr. 133 [bản tiếng Nga]. Trích theo V. D. Zotov, “Các nền văn minh thế kỷ XXI – xung đột và chiến tranh hay đối thoại và hợp tác?”, SGZ, 2004, số 3, tr. 27-41 [tiếng Nga; bản dịch tiếng Việt của Viện Thông tin KHXH, in trên bản tin Tài liệu phục vụ nghiên cứu, TN 2006 – 12 & 13], tr. 1-2, Ngô Tuy Phước dịch).
Như vậy chính Toynbee mới là người khởi xướng cái ý tưởng về sự đụng độ giữa các nền văn minh. Nhưng Toynbee mới chỉ gợi ý về một sự mâu thuẫn giữa Đông và Tây, chứ chưa vạch ra một lý thuyết rành rẽ về sự đụng độ giữa các nền văn minh như Huntington.
Trong bài báo "Sự đụng độ giữa các nền văn minh?" in năm 1993, Huntington – khi ấy là Viện trưởng Viện Nghiên cứu Chiến lược thuộc Đại học Harvard (Hoa Kỳ) – đã viết: “Tôi cho rằng nguồn gốc cơ bản của sự xung đột trong thế giới mới này trước hết sẽ không thuộc về tư tưởng hoặc kinh tế. Những chia cắt lớn giữa loài người và nguồn gốc chi phối xung đột sẽ thuộc về văn hoá. Quốc gia dân tộc vẫn sẽ là những tác nhân mạnh nhất trong các vấn đề thế giới, nhưng những xung đột chính trong chính trị toàn cầu sẽ xuất hiện giữa các dân tộc và các nhóm văn minh khác nhau. Sự đụng độ giữa các nền văn minh sẽ chi phối nền chính trị toàn cầu. Những đường đứt đoạn giữa các nền văn minh sẽ trở thành các chiến tuyến trong tương lai.” (Samuel P. Huntington, “The Clash of Civilizations” [“Sự đụng độ giữa các nền văn minh”]. In trong: The Geopolitics Reader [edited by Gearóid ó Tuathail, Simon Dalby and Paul Routledge], Nxb. Routledge, London – New York, 1998, tr. 159.) Như vậy, mặc dù đầu đề bài báo có dấu chấm hỏi để làm ra vẻ có sự hoài nghi về khả năng đụng độ, nhưng lập luận của Samuel Huntington cho thấy sự đụng độ là không thể tránh khỏi. Và Huntington tuyên bố: “Xung đột giữa các nền văn minh sẽ là giai đoạn cuối cùng của tiến trình xung đột trong thế giới hiện đại.” (Samuel P. Huntington, bài đã dẫn, tr. 159.)
Đến năm 1996, Huntington đã phát triển quan điểm của bài viết nói trên và xuất bản thành một cuốn sách mang tên "Sự đụng độ giữa các nền văn minh và việc sắp xếp lại trật tự thế giới". Dựa trên tiêu chuẩn văn hoá-tôn giáo, Huntington phân ra 7 nền văn minh chủ yếu cộng với một nền văn minh khả dĩ. Đó là: 1. Văn minh phương Tây, tập trung vào Ôstrâylia, Bắc Mỹ và Tây Âu; 2. Văn minh Mỹ Latin, gồm Trung Mỹ và Nam Mỹ; 3. Văn minh chính giáo phương Đông, gồm khu vực thuộc Liên Xô cũ (trừ Trung Á) và phần lớn Đông Âu; 4. Văn minh Hán, gồm Trung Quốc, bán đảo Triều Tiên, Singapor, Đài Loan, Việt Nam; 5. Văn minh Hindu, gồm Ấn Độ, Nêpal; 6. Văn minh Nhật Bản; 7. Văn minh Hồi giáo, gồm Trung Đông, Tây Phi, một số nước Nam và Đông-Nam Á; 8. Văn minh khả dĩ Cận Sahara ở Nam Phi, Trung Phi, Đông Phi.
Ngoài ra có những quốc gia có sự pha trộn giữa các nền văn minh, nên không được Huntington xếp riêng vào một nền văn minh chủ chốt nào trong số 8 nền văn minh nói trên. Thậm chí có những nước không thuộc một nền văn minh nào và được Huntington coi là những quốc gia “cô độc”, ví dụ như Êthiôpia, Haiti và đặc biệt là Israel.
Theo GS. TS. Zotov (Nga), quan điểm của Huntington cũng có một cơ sở thực tế. Ông cho rằng “Một trong những hiện tượng xã hội chủ đạo ở cuối thế kỷ XX là xu thế phi thế tục hoá thế giới, tức là sự phục sinh tôn giáo sau xu thế ‘vô thần’ của thời kỳ từ thế kỷ XVII đến nửa đầu thế kỷ XX. ‘Sự phục thù của Chúa Trời’ đó thường diễn ra dưới hình thức các phong trào nguyên giáo [tiếng Anh: fundamentalism] mang tính chiến đấu, không khoan nhượng với các tôn giáo khác. Tôn giáo chia rẽ con người ta còn mạnh hơn là nguồn gốc sắc tộc, dân tộc. Một người có thể là nửa Pháp, nửa Arập, và thậm chí có thể là công dân của cả hai quốc gia đó. Nhưng làm một tín đồ nửa Công giáo và nửa Hồi giáo thì phức tạp hơn rất nhiều.” (V. D. Zotov, “Các nền văn minh thế kỷ XXI – xung đột và chiến tranh hay đối thoại và hợp tác?”, SGZ, 2004, số 3, tr. 27-41 [tiếng Nga; bản dịch tiếng Việt của Viện Thông tin KHXH, in trên bản tin Tài liệu phục vụ nghiên cứu, TN 2006 – 12 & 13, Ngô Tuy Phước dịch].)
Quả thực đây là một thực tế rất đáng để ý. Thế giới nửa cuối thế kỷ XX là thế giới của thời đại toàn cầu hoá. Trong thời đại toàn cầu hoá này, con người có xu hướng trở thành công dân toàn cầu, một người có thể có từ 2 đến 3 quốc tịch. Thế nhưng cái xu hướng toàn cầu hoá đó lại chủ yếu là xuất phát từ phương Tây, từ các nước có nền văn minh tiên tiến. Vì thế nó lại dẫn đến một phản ứng ngược lại: đó là xu hướng khẳng định quyền được khác biệt, khẳng định bản sắc của một cộng đồng. Và, bởi vì trong cái thế giới toàn cầu hoá này, mọi cái đều có thể có sự giao thoa, kể cả tính sắc tộc, thì cái yếu tố bản sắc tôn giáo lại tỏ ra là có tính bền vững nhất: người ta khó chấp nhận – nếu không nói là không thể chấp nhận – một người thờ hai Chúa. Cho nên, Zotov rất có lý khi nhận xét rằng một người có thể có hai quốc tịch, nhưng một người cùng theo hai tôn giáo một lúc thì quả là khó tin.
Chính vì thế mà Huntington đã căn cứ vào tôn giáo để phân biệt ra các nền văn minh. Và có lẽ bởi vì ông cũng quan niệm rằng một người không thể thờ hai Chúa, cho nên ông đã lấy tôn giáo làm cơ sở để đưa ra lý thuyết về sự đụng độ giữa các nền văn minh.
Tuy nhiên cũng còn có một thực tế nữa là mặc dù một người không thể thờ hai Chúa, nhưng các Đức Chúa vẫn có thể hoà hợp với nhau, các tín đồ thuộc các tôn giáo khác nhau vẫn có thể sống chung với nhau. Truyền thống khoan dung của loài người đã tồn tại từ rất lâu. Ngay ở nước ta, chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã từng nói đại ý là nếu còn sống, các vị Thích Ca, Jêsu, Các Mác và Tôn Dật Tiên cũng có thể ngồi cùng một bàn với nhau. Ngoài ra, đối với người dân hiện đại, rất nhiều người không còn có một ý thức tôn giáo rõ ràng và lòng tín ngưỡng của họ cũng rất mờ nhạt. Cho nên, tôn giáo, về bản chất không phải là có tính xung đột lẫn nhau. Mà tất cả những vụ xung đột mang màu sắc tôn giáo đều là do động cơ kinh tế và chính trị. Thậm chí còn có cả động cơ cá nhân mà các tín đồ chỉ là những người bị lợi dụng. Trong tinh thần này, một giáo sư nhân chủng học người Hoa Kỳ tên là John R. Bowen cho rằng bản tính của tộc người không phải là xung đột, tức là mọi tộc người trên thế giới sinh ra không phải là để xung đột nhau; rằng xung đột không phải là do có sự khác nhau về văn hoá; mà xung đột chỉ xảy ra do ý đồ chính trị của các cá nhân, đảng phái. (John R. Bowen, “The Myth of Global Ethnic Conflict” [“Ảo tưởng về xung đột sắc tộc toàn cầu”], Journal of Democracy, Oct. 1996, Vol. 7, No. 4.)
Điều này cũng đúng với cả trường hợp tôn giáo. Chúng tôi cho rằng các tôn giáo có thể mâu thuẫn nhau về một số khía cạnh nào đó, nhưng để đi đến xung đột thì phải có một động cơ và một ngọn cờ chính trị hoặc kinh tế. Tám cuộc thập tự chinh ở Trung Đông diễn ra từ năm 1095 đến năm 1291 thực chất là một cuộc tranh giành miền đất thánh ở Trung Đông giữa Đế quốc Hồi giáo Thổ Nhĩ Kỳ với Đế quốc Bizantium [hay Đế quốc La Mã phương Đông]. Cuộc tàn sát đêm Thánh Barthelemy năm 1572 đàn áp tín đồ đạo Tin Lành ở Pháp chỉ là cái cớ để vua Pháp loại bỏ đô đốc Coligny, người đang ủng hộ cuộc nổi loạn của Hà Lan chống lại ách đô hộ của Tây Ban Nha hồi bấy giờ. Động cơ thực sự của các cuộc tấn công vừa qua của Bin Laden vào nước Mỹ nhân danh thế giới Hồi giáo, theo nhà nghiên cứu người phương Tây gốc Hồi giáo Fouad Ajami, là do chúng tức giận vì không lật đổ được trật tự cai trị hiện hành của những nước A Rập nằm trong vòng ảnh hưởng của Hoa Kỳ. (Theo R. J. Lieber và R. E. Weisbergy, “Globalization, Culture, and Identities in Crisis” [“Toàn cầu hoá, văn hoá và khủng hoảng bản sắc”], International Journal of Politics, Culture and Society, Vol. 16, No. 2, Winter 2002,http://germany.usembassy.de/events/fachleiter/faculty2003.htm.) Tuy nhiên, vì tôn giáo là một lĩnh vực văn hoá liên quan đến một vùng thế giới tinh thần rất nhạy cảm của con người là tâm linh, cho nên nó rất dễ bị kích động và dễ gây ảo tưởng. Xuất phát từ một ý đồ chính trị, cả những người trong cuộc lẫn những người đứng ngoài đều dễ đi đến chỗ có ấn tượng về một sự xung đột tôn giáo. Và đôi khi những người trong cuộc đi đến chỗ trấn áp các tôn giáo khác và họ hành động như những kẻ bảo vệ tôn giáo của mình.
Vì thế, mặc dù quan điểm của Huntington được nhiều người đồng tình, nhưng nó cũng nhận được không ít những ý kiến phản đối. Đặc biệt là UNDP đã cho rằng đây là một quan điểm theo thuyết quyết định luận văn hoá, một lý thuyết tuyệt đối hoá vai trò của văn hoá mà bỏ qua các yếu tố quyết định khác. UNDP cũng như nhiều học giả và các nhà hoạt động văn hoá khác cho rằng loài người phải thực hiện đối thoại văn hoá thì thế giới mới có hoà bình và ổn định. Trong tinh thần đó, những bài phát biểu của Tổng thống nước Cộng hoà Hồi giáo Iran S. M. Khatami, được công bố dưới dạng một tập sách có nhan đề Trong con người kết tụ cả tâm hồn phương Đông lẫn lý tính phương Tây đã tỏ ra có ý nghĩa rất to lớn. Chính ông đã có sáng kiến để LHQ tuyên bố lấy năm 2001 là Năm Đối thoại giữa các nền văn minh. Ngày 9-11-2001, Đại Hội đồng LHQ đã thông qua nghị quyết về Chương trình nghị sự chủ yếu để đối thoại giữa các nền văn minh. Tất cả những điều đó cho thấy đề án của Khatami đã được quốc tế công nhận. (Xem V. D. Zotov, “Các nền văn minh thế kỷ XXI – xung đột và chiến tranh hay đối thoại và hợp tác?”, nguồn đã dẫn.)
Tóm lại, địa chính trị văn hoá đang là một trong những xu hướng địa chính trị ngày nay. Nó đã được những kẻ cực đoan và những kẻ đầu cơ chính trị lợi dụng để phát động những cuộc chiến tranh hoặc chí ít là những cuộc khủng bố nhằm mục đích chia lại thế giới về mặt địa chính trị. Đây là xu hướng nguy hiểm gây bất ổn thế giới và có nguy cơ dẫn loài người đi đến những thảm hoạ. Vì thế, nhiệm vụ của các nhà khoa học địa chính trị nói riêng và loài người tiến bộ nói chung phải đấu tranh để thiết lập một chủ trương thường xuyên đối thoại văn hoá để phát huy thế mạnh của địa chính trị văn hoá nhằm phục vụ cho sự tiến bộ của nhân loại.
Hình minh hoạ:
SỰ PHÂN BỐ CÁC NỀN VĂN MINH TRÊN THẾ GIỚI THEO HUNTINGTON
Chú thích: 1. Xanh lam thẫm: phương Tây; 2. Xanh lam nhạt: chính giáo phương Đông; 3. Xanh lá cây: Hồi giáo; 4. Nâu: châu Phi Cận Sahara; 5. Tím: Mỹ Latin; 6. Đỏ: Hán; 7. Da cam: Hindu; 8. Màu vàng: Phật giáo; 9. Màu đỏ gạch: Nhật Bản; 10. Nâu nhạt: những nước “cô độc” và không thuộc văn minh chủ chốt. (Nguồn: http://history.club.fatih.edu.tr/...; Nguồn trung gian: Wikipedia).
ThíchThích ·  · 

Thứ Sáu, 6 tháng 6, 2014

BẦU KIÊN CÓ THOÁT TỘI

Theo cáo trạng của VKS và tài liệu của vụ án cho thấy, dù tòa có tuyên án Nguyễn Đức Kiên và các đồng phạm thì vụ án này vẫn chưa thể kết thúc.
-----------------------------------
---------------------------------------------
Cục trưởng C46 - Thiếu tướng Nguyễn Đức Thịnh - người trực tiếp có mặt chỉ huy phá án chia sẻ: Vụ án Nguyễn Đức Kiên và đồng phạm là vụ án gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng, với thủ đoạn hoạt động phạm tội rất tinh vi, liên quan đến một số người giữ vị trí quan trọng trong cơ quan quản lý Nhà nước nên mức độ ảnh hưởng của vụ án rất rộng, được dư luận đặc biệt quan tâm.
Mở rộng điều tra sẽ còn một số người bị truy tố
Vụ bắt giữ Nguyễn Đức Kiên có ý nghĩa rất quan trọng với vấn đề an ninh tài chính, ngân hàng của đất nước. Cơ quan điều tra đã trả lời được với công luận: Không có vùng cấm cho tội phạm, dù bất cứ ở lĩnh vực nào. Mặt khác, qua vụ án đã góp phần quan trọng buộc các ngân hàng thương mại cổ phần hoạt động theo đúng quy định pháp luật, đặc biệt hoạt động về phát hành cổ phiếu tiền ảo; sở hữu chéo; thâu tóm ngân hàng; vượt trần lãi suất… được các cấp, các ngành ủng hộ, dư luận đồng tình. Qua quá trình điều tra, các cơ quan điều tra xác định, trong vụ án này, khi mở rộng điều tra tới đây, sẽ còn một số người phải truy tố trước pháp luật.
Theo dõi diễn biến của vụ án, luật sư Trần Văn Đức, Giám đốc Công ty Luật Trường Sa nhận định rằng: Có thể nhìn thấy ngay đầu tiên là bị cáo Trần Xuân Giá (nguyên Chủ tịch Hội đồng quản trị Ngân hàng ACB) tới đây sẽ phải đưa ra xét xử.
Ngày 9/2, VKSND tối cao đã tống đạt cáo trạng lần 2, truy tố 9 bị can trong vụ án kinh tế lớn ở Ngân hàng ACB do Nguyễn Đức Kiên cầm đầu. Thêm một số cá nhân bị truy tố, tuy nhiên, bà Đặng Thị Ngọc Lan, vợ Nguyễn Đức Kiên, và bà Nguyễn Thúy Hương, em gái Nguyễn Đức Kiên, được xem là 2 cá nhân có liên quan trực tiếp đến hoạt động kinh doanh trái phép của Nguyễn Đức Kiên, xét vào thời điểm thực tế khi đó, để đảm bảo tính nhân đạo của pháp luật, cơ quan điều tra đã đề xuất chưa cần thiết xử lý hình sự đối với 2 người này.
Bị cáo Nguyễn Đức Kiên nói lời sau cùng trước toà
Trong lời nói sau cùng trước toà, ôngNguyễn Đức Kiên khi nói về gia đình mình đã không kìm nổi giọt nước mắt nghẹn ngào.
Theo tài liệu vụ án, hai người phụ nữ này có "dấu chân" trong các phi vụ buôn bán vàng trái phép - một trong những tội trạng lớn nhất của Nguyễn Đức Kiên. Bà Đặng Ngọc Lan vốn là Tổng giám đốc Công ty B&B, nơi mà Nguyễn Đức Kiên đã dùng để thực hiện một loạt các hoạt động kinh doanh trái pháp luật của mình. Hai người này là những người thực hiện việc ký hợp đồng theo chỉ đạo của Nguyễn Đức Kiên, giúp Nguyễn Đức Kiên trốn trên 25 tỷ đồng tiền thuế thu nhập doanh nghiệp tại Công ty B&B.
Bà Lan và Hương là những người liên đới chịu trách nhiệm vì đã nhận ủy thác sai quy định pháp luật. Tại cơ quan công an, bà Đặng Ngọc Lan cũng đã khai: Bà có ký các hợp đồng ủy thác và phân chia lợi nhuận giữa Công ty B&B với Nguyễn Thúy Hương nhưng trong thời điểm ký hợp đồng này bà đang chuẩn bị sinh con nên không biết gì về việc kinh doanh vàng của công ty B&B. Mọi việc kinh doanh của Công ty B&B đều do Nguyễn Đức Kiên chỉ đạo và trực tiếp thực hiện. Cơ quan điều tra đã chấp thuận theo lý giải này và cho rằng hành vi giúp Nguyễn Đức Kiên trốn 25 tỷ đồng tiền thuế thu nhập doanh nghiệp tại công ty B&B của Đặng Thị Ngọc Lan đã đủ yếu tố cấu thành tội Trốn thuế, quy định tại Điều 161 Bộ luật Hình sự, với vai trò đồng phạm giúp sức.
Đối với Nguyễn Thúy Hương, tại cơ quan điều tra Hương khai rõ, không có kinh doanh gì nhưng theo chỉ đạo của Kiên, Hương có ký hợp đồng ủy thác đầu tư tài chính và phụ lục hợp đồng với công ty B&B để chuyển lợi nhuận từ Công ty B&B và Ngân hàng ACB do Kiên thực hiện. Số tiền lợi nhuận thu được sau đó Hương đã chuyển lại cho Kiên sử dụng. Hành vi của Nguyễn Thúy Hương đã đủ yếu tố cấu thành tội Trốn thuế, quy định tại Điều 161 Bộ luật Hình sự, với vai trò đồng phạm giúp sức. Tuy nhiên, Nguyễn Thúy Hương là em gái Nguyễn Đức Kiên, là người ký hợp đồng theo chỉ đạo của anh trai, không biết và không tham gia gì vào việc kinh doanh, hưởng lợi cá nhân. Cơ quan điều tra cũng không đề nghị xử lý hình sự đối với Nguyễn Thúy Hương theo lý giải trên.
Vợ bầu Kiên liên tục hướng mắt về phía chồng tại tòa 10
Ngày cuối trước khi tòa vào nghị án, bầu Kiên nói về vợ và con với tâm trạng xúc động. Bị cáo 50 tuổi cho rằng những khó khăn hôm nay vợ đang phải giải quyết là rất lớn...   
Phân tích về vấn đề này, luật sư Trần Văn Đức, Giám đốc Công ty Luật Trường Sa và luật sư Trần Viết Hưng, Đoàn Luật sư Hà Nội cho rằng, luận điểm của cơ quan công an về vấn đề này cần được xem xét kỹ lưỡng. Mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật. Cơ quan công an có nhiệm vụ điều tra, làm rõ các hành vi vi phạm một cách rõ ràng, khách quan, đúng người, đúng tội, tránh bỏ lọt tội phạm và cũng không được làm oan sai. Sau đó chuyển cho Viện Kiểm sát giám sát, truy tố, đưa ra tòa án xét xử. Vậy nên việc xem xét tính nhân đạo sẽ được thực hiện ở công đoạn cuối của quy trình tố tụng. Tức là tòa án sẽ xem xét vấn đề đó.
Vì vậy, trong kết luận điều tra, cơ quan công an đã đặt ra vấn đề “đảm bảo tính nhân đạo” theo các luật sư là phù hợp trong thời điểm đó, tuy nhiên theo chúng tôi, tại thời điểm này cần phải xem xét lại. Bởi, theo Luật sư Trần Viết Hưng, việc bà Đặng Ngọc Lan và bà Nguyễn Thúy Hương không bị đưa ra xét xử sẽ dẫn đến việc có nhiều nghi ngại rằng do Nguyễn Đức Kiên đã nhận hết, gánh hết tội, và có hay không việc các cơ quan tố tụng đang bỏ lọt tội phạm ?!
Qua đây mới cho thấy, thời gian qua không ít người đã nhầm tưởng rằng bà Đặng Ngọc Lan không có liên quan gì đến vụ án, nhưng thực chất là cơ quan điều tra xem xét tính nhân đạo ở thời điểm đó vì bà Lan chuẩn bị sinh con nên chưa áp dụng các biện pháp khởi tố, bắt giam.
Nhập mô tả cho ảnh
Bị cáo Nguyễn Đức Kiên tại tòa sơ thẩm.
Bất cứ ai liên quan đến Nguyễn Đức Kiên thâu tóm, lũng loạn thị trường đều phải xử lý nghiêm minh
Trong phiên thảo luận về tình hình kinh tế-xã hội mới đây tại kỳ họp thứ 7 Quốc hội khóa XIII, nhiều đại biểu Quốc hội đánh giá, khen ngợi những thành tựu mà ngành Ngân hàng đã đạt được, đó là kết quả đáng mừng.
Nhưng, như chúng ta đã biết, để có được nền tài chính, ngân hàng, tiền tệ hoạt động ổn định được như thời gian qua là nhờ có sự quyết tâm chống tham nhũng của Đảng, Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ trong chỉ đạo lực lượng chức năng từ thanh tra đến cơ quan điều tra, triển khai đồng bộ các nhiệm vụ, biện pháp, trước hết đặt trọng tâm vào nhóm tội phạm liên quan tới hệ thống ngân hàng, nhất là các hành vi thâu tóm.
Dưới sự chỉ đạo quyết liệt của Bộ trưởng Bộ Công an, Cơ quan CSĐT Bộ Công an trong việc điều tra, phá án, vây bắt bằng được Nguyễn Đức Kiên, không để trốn thoát, đây cũng là thể hiện sự quyết tâm của các cơ quan điều tra để không bỏ lọt tội phạm và cũng không làm oan sai. Việc truy tố, đưa ra xét xử vụ án Nguyễn Đức Kiên và đồng phạm đã góp phần quan trọng buộc các ngân hàng thương mại cổ phần hoạt động theo đúng quy định pháp luật và giúp được sự ổn định của ngành ngân hàng cũng như thị trường tài chính, tiền tệ trong suốt thời gian vừa qua.
Ngay khi bắt Nguyễn Đức Kiên, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đã biểu dương Tổng cục Cảnh sát, Bộ Công an nghiêm túc chấp hành sự chỉ đạo của Chính phủ, đã khởi tố, điều tra để đấu tranh, ngăn chặn các hành vi vi phạm pháp luật nhằm thâu tóm ngân hàng, gây mất ổn định hoạt động ngân hàng.
Nhập mô tả cho ảnh
Không riêng bị cáo Nguyễn Đức Kiên, nhiều bị cáo khác cũng cho rằng toàn bộ cáo trạng của VKSND tối cao truy tố là không chính xác và chưa đúng người đúng tội.     
Việc Bộ Công an truy tố Nguyễn Đức Kiên và đồng phạm là tiếng chuông cảnh tỉnh cho các cá nhân, tổ chức muốn kinh doanh phải hoạt động theo đúng quy định của pháp luật.
Qua vụ án, dư luận vẫn còn đặt nhiều dấu hỏi lớn đề nghị các cơ quan chức năng cần làm rõ như: Những cá nhân, tổ chức nào đã giúp sức Nguyễn Đức Kiên thâu tóm, lũng loạn thị trường tài chính, ngân hàng như vậy mà chưa được làm rõ? Việc kinh doanh trái phép của Nguyễn Đức Kiên từ việc mượn danh các công ty do chính Nguyễn Đức Kiên sáng lập (mà chủ yếu là dạng công ty gia đình, do vợ, người thân nội, ngoại đứng chân) cũng như việc lấy đằng này, đắp đằng kia, lừa đảo chiếm đoạt tài sản cho thấy sự thao túng, vô nguyên tắc mà không có cá nhân, tổ chức nào đứng ra chịu trách nhiệm. Việc các công ty Nguyễn Đức Kiên lập đều không được phép kinh doanh tài chính, nhưng vẫn hoạt động với nhiều hình thức, chiêu trò lắt léo, không bình thường, vi phạm các quy định hiện hành mà vẫn qua mắt cơ quan quản lý ?
Dư luận đã từng được nghe, từng được chứng kiến tài năng "chém gió" của "bầu Kiên" trong các cuộc họp về bóng đá, hội nghị của ngành ngân hàng. Dư luận còn xôn xao về việc Nguyễn Đức Kiên từng tuyên bố muốn lấy ngân hàng nào sẽ đều lấy được hết, ngân hàng nào muốn tái cơ cấu, sáp nhập thì cứ nói với "bầu Kiên". Một cán bộ lão thành đặt câu hỏi: Liệu có phải bóng vía ông "bầu Kiên" quyền lực quá mạnh khiến các cơ quan quản lý phải “né” hay đằng sau đó có động cơ vụ lợi nào khác? Thiết nghĩ những băn khoăn như vậy không phải là vô cớ và các cơ quan chức năng cần có trách nhiệm giải tỏa những nghi vấn này để nhân dân hoàn toàn tin tưởng vào cuộc đấu tranh chống tham nhũng mà Đảng và Nhà nước đang kêu gọi cả hệ thống chính trị vào cuộc.
Vụ án bầu Kiên: Dễ dãi gửi tiền, mất sạch 700 tỷ đồng - Ảnh 1
Tại phiên xét xử “bầu” Kiên, Tòa tiếp tục làm rõ hành vi cố ý làm trái, xung quanh chủ trương của Ngân hàng ACB ủy thác cho nhân viên gửi tiền vào các ngân hàng khác.
Bình luận về vấn đề này, luật sư Trần Viết Hưng, Đoàn Luật sư Hà Nội cho rằng, với loại tội phạm liên quan đến các hoạt động kinh tế, tín dụng, kinh doanh vàng chắc chắn phải được Ngân hàng Nhà nước kiểm tra, kiểm soát, giám sát nghiêm ngặt. Chính vì vậy, “tôi tin chắc rằng cá nhân Nguyễn Đức Kiên một mình không thể lừa đảo chiếm đoạt tài sản, cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng được… Ai là người đứng đằng sau, đồng phạm giúp sức, để Nguyễn Đức Kiên thực hiện các hành vi phạm tội trên cần được làm rõ ?.
Tại phiên tòa xét xử Nguyễn Đức Kiên và đồng phạm vừa qua, luật sư Hoàng Đôn Hùng bào chữa cho bị cáo Kiên cũng đã đề nghị HĐXX xem xét trách nhiệm, làm rõ và xử lý hành vi có dấu hiệu thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng của từng cá nhân trong cơ quan Nhà nước có trách nhiệm liên quan.
Đối với tội phạm thâu tóm ngân hàng, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đã nhiều lần chỉ đạo, yêu cầu Bộ Công an chỉ đạo khẩn trương điều tra làm rõ và xử lý nghiêm minh theo pháp luật bất cứ ai có hành vi vi phạm pháp luật, bảo đảm công khai, minh bạch, đảm bảo an ninh, an toàn hoạt động của hệ thống ngân hàng trong cả nước.
Trong vụ án Huỳnh Thị Huyền Như, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đã yêu cầu các cơ quan bảo vệ pháp luật cần làm rõ và đầy đủ những vi phạm của các tổ chức, cá nhân có liên quan, không loại trừ tổ chức, cá nhân nào; có hình thức xử lý tương xứng, đáp ứng kỳ vọng của các tầng lớp nhân dân, có tác dụng tốt trong việc răn đe, ngăn chặn và đẩy lùi các loại tội phạm, trong đó có tội phạm trong lĩnh vực kinh tế, góp phần tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nước và làm cho kinh tế-xã hội phát triển lành mạnh hơn.
Nhập mô tả cho ảnh
Không riêng bị cáo Nguyễn Đức Kiên, nhiều bị cáo khác cũng cho rằng toàn bộ cáo trạng của VKSND tối cao truy tố là không chính xác và chưa đúng người đúng tội.     
Tại hội nghị toàn quốc về công tác phòng, chống tham nhũng, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã chỉ đạo: “Một khi đã xảy ra tham nhũng thì nhất thiết phải xử lý kiên quyết, xử lý thật nghiêm, đúng quy định của luật pháp, không có vùng cấm. Chúng ta phải nghiêm túc tuân thủ sự bình đẳng trước pháp luật, không có đặc quyền, không có ngoại lệ, trừng phạt nghiêm khắc những phần tử tham nhũng. Quán triệt và thực hiện nghiêm nguyên tắc: Có vụ việc thì phải được xác minh làm rõ; có dấu hiệu phạm tội là phải được tiến hành điều tra; có kết luận điều tra thì phải xem xét truy tố; có cáo trạng thì phải được nghiên cứu đưa ra xét xử nghiêm minh, kịp thời”.
Nhân dân cả nước đang dõi theo và kỳ vọng vào sự công tâm của những người giữ cán cân công lý và các cơ quan tố tụng. Các luật sư bào chữa cho các bị can trong vụ án Nguyễn Đức Kiên đã ký vào bản kiến nghị gửi các đại biểu Quốc hội, các Ủy ban của Quốc hội, Ban Chỉ đạo Cải cách Tư pháp Trung ương, Văn phòng Quốc hội đề nghị giám sát việc điều tra, xét xử vụ án.
Nhân dân mong rằng, trong quá trình điều tra, xét xử vụ án Nguyễn Đức Kiên tới đây sẽ không có vùng cấm, không thể có thế lực nào ngăn cản, cản trở quá trình điều tra xét xử, phải xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật, chỉ có như vậy thì vụ án Nguyễn Đức Kiên và đồng phạm mới giải quyết được tận gốc, tạo được niềm tin của nhân dân vào Đảng Nhà nước ta. 
---------------------------------------
------------------------------------------------
Đề nghị mức án 30 năm tù giam đối với bầu Kiên - Ảnh 1
VietBao.vn (Theo Trọng Tâm/Chinhphu.vn) 
CHỜ TUYÊN ÁN

Sáng ngày 9/6 tới, Hội đồng xét xử sẽ tuyên án Nguyễn Đức Kiên ("bầu Kiên") và đồng phạm. VKSND TP Hà Nội khẳng định có đủ căn cứ cho thấy Nguyễn Đức Kiên phạm các tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, Cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng, Trốn thuế và Kinh doanh trái phép, đề nghị mức án cho các tội danh của "bầu Kiên" là 30 năm tù giam.
Tuy nhiên, luật sư bào chữa và bản thân "bầu Kiên" dùng luật chứng minh nhiều điều khiến HĐXX và đại diện các bộ ban ngành có mặt đều lúng túng. Dư luận vẫn đặt ra câu hỏi liệu "bầu Kiên" sẽ vô tội hay vẫn lĩnh 30 năm tù giam như đề xuất? 
Bau Kien se vo toi hay nhan 30 nam tu
 Bị cáo Nguyễn Đức Kiên tại tòa.
PV đã có cuộc trao đổi với Luật sư Hoàng Cao Sang, Trưởng Văn phòng Luật sư Hoàng Việt Luật xung quanh vụ việc này.
Theo luật sư, "bầu Kiên" sẽ vô tội hay vẫn 30 năm tù giam như đề xuất?
Xét về mặt chứng cứ, lý luận thì tôi cho rằng không có căn cứ để tuyên xử bị cáo Nguyễn Đức Kiên phạm tội và phạt bị cáo Kiên 30 năm tù.
Những căn cứ mà bản cáo trạng đưa ra và lập luận của đại diện Viện kiểm sát trong phần luận tội không đủ thuyết phục để buộc tội bị cáo. Ngược lại, những vần đề mà luật sư bào chữa cho bị cáo Kiên và bị cáo Kiên đưa ra rất thuyết phục. Ngay cả những cơ quan ban ngành liên quan trực tiếp đến vụ án, những cơ quan quản lý nhà nước cũng lúng túng và không trả lời được hoặc giải thích không thấu đáo.
Mặt khác, trong suốt quá trình xét xử bị cáo Kiên, dư luận và báo chí luôn đồng tình với những lập luận của luật sư bào chữa cho bị cáo Kiên và của bị cáo Kiên đưa ra, thì điều này chúng ta cũng thấy được vấn đề như thế nào, trong khi đó Nguyễn Đức Kiên đang là can phạm còn Đại diện Viện kiểm sát là người buộc tội.
Tuy nhiên, trong thực tế thì rất khó lường. Mỗi một HĐXX có cái nhìn và lập luận riêng của họ mà các nhà chuyên môn khó mà đoán được.  
Bị cáo Nguyễn Đức Kiên nói lời sau cùng trước toà
Trong lời nói sau cùng trước toà, ôngNguyễn Đức Kiên khi nói về gia đình mình đã không kìm nổi giọt nước mắt nghẹn ngào.
Khác với các bị cáo trong các phiên xử, "bầu Kiên" luôn thể hiện sự tự tin. Trước công đường, "bầu Kiên" khi thì ngồi thì khoanh tay, lúc đứng chắp tay sau lưng, luôn hướng đôi mắt sắc lẹm nhìn thẳng, khóe miệng hơi nhếch, có lúc cười tươi tay chỉ thẳng vào HĐXX. Trong bộ quần áo chỉn chu, phong thái tự tin đầy áp đảo người đối diện, luôn vung tay khi nói chuyện, nếu không có bóng dáng của những cảnh sát kề bên, không ai nghĩ ông ta đang đứng trước vành móng ngựa. Khi trả lời thẩm vấn tại tòa, đối diện với HĐXX, bị cáo Kiên, với gương mặt lạnh lùng, chắp tay sau lưng, sang sảng trả lời thẩm vấn, không khác gì một quan chức đang diễn thuyết tại nghị trường, "bầu Kiên" tự tin như vậy có nguyên nhân vì sao?
Để có một phong thái như vậy, tôi cho rằng nó xuất phát từ niềm tin nội tâm của bị cáo Kiên. Bị cáo Kiên tin rằng mình làm đúng, mình không phạm tội nên có sự cương quyết, thái độ tự tin như vậy. Tôi cảm nhận được từ bị cáo Kiên là, cho dù Tòa có tuyên án và phạt ông ấy 30 năm tù, ông ấy không tâm phục khẩu phục.
Và trên thực tế, đại diện VKS, HĐXX cũng không đưa ra những căn cứ, quy định của pháp luật thuyết phục được bị cáo và những người tham dự tòa.
"Bầu Kiên" còn gửi thư và gửi thông điệp tới Chủ tịch nước, Tổng bí thư, Thủ tướng và kể những cống hiến của "bầu Kiên" cho Đảng và Nhà nước. Nếu "bầu Kiên" có những cống hiến hay thành tích xuất sắc cho xã hội thì có được giảm nhẹ tội?
Nếu bị cáo Kiên đưa ra được những bằng chứng là mình đã cống hiến và có thành tích xuất sắc cho Đảng, Nhà nước, xã hội thì sẽ được xem là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm S, khoản 1, điều 46 BLHS. Khoản này quy định: người phạm tội là người có thành tích xuất sắc trong sản xuất, chiến đấu, học tập hoặc công tác. 
Bau Kien se vo toi hay nhan 30 nam tu
 Luật sư Hoàng Cao Sang.
Sau phiên xử, Hội đồng xét xử sẽ phải đối diện với dư luận thế nào?
Tôi cho rằng đây là việc khó đối với HĐXX trong vụ án của bị cáo Nguyễn Đức Kiên và đồng phạm bởi lẽ, việc tuyên án là phải dựa trên những căn cứ của bản cáo trạng và nhưng lập luận của đại diện Viên kiểm sát là người buộc tội. Tuy nhiên, trong quá trình xét hỏi, tranh luận thì đại diện Viện kiểm sát không bảo vệ được bản cáo trạng của mình mà bị những lập luận, chứng cứ của luật sư bào chữa của bị cáo Kiên và bị cáo Kiên phản bác rất thuyết phục.
Tôi cho rằng nếu HĐXX có bản lĩnh, khách quan thì nên đánh giá từng vấn đề một nếu thấy điểm nào mà chưa rõ, chưa có căn cứ thì trả hồ sơ để điều tra bổ sung nhằm để cơ quan điều tra, Viện kiểm sát bổ sung những thiếu sót. Nếu cơ quan điều tra, Viện kiểm sát không bổ sung được thì hãy tuyên bị cáo Kiên vô tội nhằm tránh gây tiếng xấu trong dự luận và đánh mất niềm tin người dân vào ngành tư pháp.
Xin cảm ơn Luật sư Sang về cuộc trao đổi này!
---------------------------------------
------------------------------------------------
Đề nghị mức án 30 năm tù giam đối với bầu Kiên - Ảnh 1