Một loạt các hành động của chính quyền Việt Nam và Pháp kể từ thế kỷ 18 đã đưa ra bằng chứng không thể chối cãi rằng Việt Nam đã quản lý trên thực tế, liên tục, và hòa bình quần đảo Hoàng Sa.
LTS: Tờ National Interest mới đây đăng tải một bài viết phân tích những điểm bất hợp lý trong đòi hỏi chủ quyền của TQ trên biển Đông, từ góc dữ liệu lịch sử và luật pháp. Xin trân trọng giới thiệu tiếp phần hai của tư liệu này, như góc nhìn tham chiếu trong cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền của VN.Vi phạm rõ ràng Hiến chương Liên hợp quốc
Trung Quốc cũng tuyên bố rằng chủ quyền của họ với các đảo trên biển Đông được công nhận trong quá trình thảo luận hiệp ước hòa bình với Nhật vào năm 1951. Tuy nhiên, văn bản cuối cùng của hiệp ước đưa việc từ bỏ quyền của Nhật Bản ở Đài Loan và Bành Hồ, và Hoàng Sa - Trường Sa, ra làm hai đoạn văn bản khác nhau ở Điều 2. Do đó, Nhật Bản có lẽ đã từ bỏ quyền ở Đài Loan và Bành Hồ cho Trung Quốc và Hoàng Sa - Trường Sa cho Pháp. Nếu những người soạn hiệp ước muốn trao trả lại các quần đảo trên chỉ cho một quốc gia, họ đã không đưa điều trên vào trong hai đoạn văn bản riêng rẽ như vậy.
Luận điểm của Bắc Kinh rằng Nhật Bản trả lại Hoàng Sa - Trường Sa trong hai hiệp định chấm dứt sự thù địch giữa hai nước cũng không tồn tại. Điều 2 của Hiệp ước Đài Loan - Nhật Bản năm 1952 chỉ đơn giản nói rằng Nhật Bản từ bỏ quyền với Đài Loan, Bành Hồ, và các quần đảo trên biển Đông. Nếu mục đích của hiệp ước là chuyển giao Hoàng Sa - Trường Sa cho Đài Loan, thì nó đã được ghi rõ trong hiệp ước.
Tương tự, Tuyên bố chung Trung Quốc - Nhật Bản năm 1972 cũng không ủng hộ quan điểm của Bắc Kinh.
Tuyên bố chỉ nói rằng Điều 8 trong Tuyên bố Potsdam được áp dụng. Tuy thế, cả Tuyên bố Potsdam và Tuyên bố Cairo đều không ủng hộ quan điểm của Trung Quốc về chủ quyền đối với các quần đảo trên biển Đông.
Trung Quốc cũng bảo lưu quan điểm không chính xác rằng họ đã giành lại quyền kiểm soát Hoàng Sa - Trường Sa vào năm 1946 khi lực lượng Quốc dân đảng chấp nhận việc đầu hàng của quân Nhật tại Đông Dương từ vĩ tuyến 16 trở lên. Quân Quốc dân đảng đã được điều ra đảo Ba Bình (Trường Sa) và Phú Lâm (Hoàng Sa) với tư cách là lực lượng chiếm đóng theo Mệnh lệnh số 1 của tướng MacArthur.
Tuy thế, mệnh lệnh này không chuyển nhượng các quần đảo này cho Trung Quốc. Trái lại, Cộng hòa Trung Quốc và Pháp đồng ý rằng quân Pháp sẽ thay thế quân Quốc dân đảng chiếm đóng miền bắc Đông Dương, bao gồm cả Hoàng Sa và Trường Sa, vào ngày 31/3/1946. Với tư cách là lực lượng chiếm đóng, quân Quốc dân đảng có nghĩa vụ theo luật phải rời khỏi Đông Dương, tuy vậy họ đã không thực hiện.
Việc lực lượng Trung Quốc ở lại đảo Ba Bình và Phú Lâm một cách bất hợp pháp, sau khi nhiệm vụ chiếm đóng của quân Đồng minh ở Đông Dương kết thúc vào tháng 3/1946, là một sự vi phạm rõ ràng Điều 2 (4) của Hiến chương Liên hiệp quốc, và do đó, không phải là lý do để Trung Quốc chiếm hữu hai quần đảo này.
| Đảo Phú Lâm thuộc quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam đang bị Trung Quốc chiếm đóng trái phép |
Tương tự, việc Đài Loan chiếm đảo Ba Bình vào năm 1956, cũng như việc Trung Quốc chiếm quần đảo Hoàng Sa vào năm 1954 và một vài đảo nhỏ thuộc Trường Sa năm 1988 và 1995 bằng vũ lực, là vi phạm Hiến chương Liên hợp quốc và do vậy không đưa ra lý lẽ hợp pháp nào để họ sở hữu quần đảo.
Bắc Kinh cũng tuyên bố rằng Bắc Việt Nam từ bỏ quyền sở hữu với các đảo thuộc biển Đông vào những năm 1950 và 1960. Tuy vậy, sự phụ thuộc của Trung Quốc vào những tuyên bố này là có khá nhiều vấn đề. Quan trọng nhất đó là việc Bắc Việt Nam không có gì để từ bỏ vào những khoảng thời gian này.
Hiệp định Geneva chia cắt Bắc - Nam Việt Nam tại vĩ tuyến 17, trong đó cả hai quần đảo Hoàng Sa - Trường Sa đều thuộc miền Nam. Là quốc gia thừa kế vị trí của nước Pháp, Nam Việt Nam do vậy được quyền quản lý các quần đảo Hoàng Sa - Trường Sa, chứ không phải là Bắc Việt Nam.
Dựa vào những chứng cứ đưa ra bởi các bên cũng như nguyên tắc căn bản của luật quốc tế liên quan đến sáp nhập lãnh thổ, quan điểm về chủ quyền của Việt Nam rõ ràng là có trọng lượng hơn Trung Quốc.
Bằng chứng không thể chối cãi của Việt Nam
Một loạt các hành động của chính quyền Việt Nam và Pháp kể từ thế kỷ 18 đã đưa ra bằng chứng không thể chối cãi rằng Việt Nam đã quản lý trên thực tế, liên tục, và hòa bình quần đảo Hoàng Sa.
Chủ quyền Việt Nam trên quần đảo này được xác lập đầu tiên vào thế kỷ 18 bởi Biệt đội Hoàng Sa được nhà nước tài trợ, sau này được phong thánh bởi hoàng đế Gia Long và Minh Mạng trong thế kỷ 19. Chủ quyền này cũng được người Pháp giả định một cách tạm thời vào cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20, và tiếp tục được quản lý công khai, hòa bình, và bình thường bởi một nước Nam Việt Nam độc lập sau khi quân Pháp rút khỏi Đông Dương vào năm 1956, và bởi nước Việt Nam thống nhất sau năm 1976.
Tương tự, nước Pháp, với danh nghĩa đại diện cho Việt Nam, đã thực thi một loạt hành động khẳng định chủ quyền của Pháp trên Trường Sa, đặc biệt là việc họ chính thức sáp nhập và chiếm giữ quần đảo này vào năm 1933. Tại thời điểm đó, việc sáp nhập quần đảo theo nguyên tắc vô chủ đã tuân thủ nghiêm ngặt quy định hiện hành của luật quốc tế và nguyên tắc hành xử quốc gia khi đó.
Anh Quốc, vốn quản lý một vài đảo thuộc Trường Sa vào những năm 1800, đã từ bỏ đòi hỏi chủ quyền của mình sau khi Pháp sáp nhập, vì thế chủ quyền của Pháp với Trường Sa đã được thiết lập một cách hợp pháp và hợp lý. Vì vậy, hành động của Việt Nam và Pháp rõ ràng đã chứng tỏ sự hiện diện thực tế và liên tục, cũng như thực hiện quyền chủ quyền một cách hòa bình trên quần đảo Trường Sa.
Quyền chủ quyền của Pháp với quần đảo này đã được nhượng lại cho Nam Việt Nam vào những năm 1950 và chính quyền Nam Việt Nam (sau đó là nước Việt Nam thống nhất) đã quản lý thực tế Trường Sa cho đến khi Đài Loan chiếm giữ đảo Ba Bình một cách bất hợp pháp vào năm 1956, và Trung Quốc chiếm giữ một cách bất hợp pháp một số đảo nhỏ vào năm 1988.
Biển Đông là nơi có những tuyến vận tải và truyền thông đường biển quan trọng và chiến lược nhất thế giới. Giá trị thương mại đi qua khu vực này trị giá năm nghìn tỷ đô la, bao gồm một nửa lượng tàu chở dầu và hơn một nửa lượng tàu thương mại thế giới tính theo sức nặng. Hơn một nghìn tỷ USD trong đó là thương mại của Mỹ. Xung đột nếu xảy ra ở đây sẽ gây bất ổn kinh tế thế giới.
Thực tế và luật lệ đã rất rõ ràng: đòi hỏi của Trung Quốc là không có cơ sở và hành vi hung hăng của họ đang đe dọa hòa bình và an ninh khu vực. Động thái trung lập giả tạo sẽ chỉ khiến Bắc Kinh trở nên hung hăng hơn và giúp họ tiến một bước gần hơn để cướp đất trên các quần đảo thuộc biển Đông.
Theo Khắc Giang
Tuần Việt Nam/National Interest
*Tác giả bài viết, Đại úy (nghỉ hưu) Raul Pedrozo, từng là cố vấn
quân pháp của lực lượng chỉ huy Thái Bình Dương của hải quân Mỹ.Tuần Việt Nam/National Interest

![ĐỊA CHÍNH TRỊ VĂN HOÁ VỚI HỌC THUYẾT VỀ SỰ ĐỤNG ĐỘ GIỮA CÁC NỀN VĂN MINH (Trích sách "Địa chính trị...")
NGUYỄN VĂN DÂN
Văn hoá đã được quan tâm từ lâu, nhưng bộ môn văn hoá học mới được hình thành và phát triển từ thế kỷ XX. Từ đó người ta cũng bắt đầu quan tâm đến việc nghiên cứu vai trò của văn hoá trong các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội. Trong tinh thần đó, các nhà địa chính trị cũng bắt đầu quan tâm đến vai trò của văn hoá trong các khu vực địa chính trị thế giới. Người đầu tiên được coi là khởi xướng xu hướng này trong địa chính trị hiện đại là Samuel Huntington, tác giả của một lý thuyết có tên là “Sự đụng độ giữa các nền văn minh” trong thế giới hậu chiến tranh lạnh.
Tuy nhiên quan điểm của Huntington không phải là hoàn toàn mới. Theo các nhà nghiên cứu, quan điểm về sự đụng độ giữa các nền văn minh đã có mầm mống từ giữa thế kỷ XX. Chẳng hạn khi nói về các nền văn minh trên thế giới, nhà sử học nổi tiếng người Anh Arnold Toynbee đã nói đến những mâu thuẫn sâu xa “giữa nền văn minh phương Tây, với tư cách là phía xâm hấn, với các nền văn minh khác với tư cách là nạn nhân.” Toynbee đã đặc biệt lưu ý rằng: chủ nghĩa Mác, được sinh ra ở phương Tây và được cải hoá ở Nga, chính là hiện thân của sự “tự trừng phạt” của phương Tây, là “phát súng đầu tiên trong cuộc phản công lại phương Tây”. Và Toynbee viết tiếp: “Tuy nhiên, không loại trừ khả năng là loạt súng Nga dưới hình thức chủ nghĩa cộng sản đối với chúng ta là cái gì đó không đáng kể, khi mà các nền văn minh hùng mạnh hơn nhiều của Ấn Độ và Trung Quốc, đến lượt mình, đáp lại sự thách thức của phương Tây chúng ta.” (A. J. Toynbee, Nền văn minh trước toà án lịch sử, M. 1995, tr. 133 [bản tiếng Nga]. Trích theo V. D. Zotov, “Các nền văn minh thế kỷ XXI – xung đột và chiến tranh hay đối thoại và hợp tác?”, SGZ, 2004, số 3, tr. 27-41 [tiếng Nga; bản dịch tiếng Việt của Viện Thông tin KHXH, in trên bản tin Tài liệu phục vụ nghiên cứu, TN 2006 – 12 & 13], tr. 1-2, Ngô Tuy Phước dịch).
Như vậy chính Toynbee mới là người khởi xướng cái ý tưởng về sự đụng độ giữa các nền văn minh. Nhưng Toynbee mới chỉ gợi ý về một sự mâu thuẫn giữa Đông và Tây, chứ chưa vạch ra một lý thuyết rành rẽ về sự đụng độ giữa các nền văn minh như Huntington.
Trong bài báo "Sự đụng độ giữa các nền văn minh?" in năm 1993, Huntington – khi ấy là Viện trưởng Viện Nghiên cứu Chiến lược thuộc Đại học Harvard (Hoa Kỳ) – đã viết: “Tôi cho rằng nguồn gốc cơ bản của sự xung đột trong thế giới mới này trước hết sẽ không thuộc về tư tưởng hoặc kinh tế. Những chia cắt lớn giữa loài người và nguồn gốc chi phối xung đột sẽ thuộc về văn hoá. Quốc gia dân tộc vẫn sẽ là những tác nhân mạnh nhất trong các vấn đề thế giới, nhưng những xung đột chính trong chính trị toàn cầu sẽ xuất hiện giữa các dân tộc và các nhóm văn minh khác nhau. Sự đụng độ giữa các nền văn minh sẽ chi phối nền chính trị toàn cầu. Những đường đứt đoạn giữa các nền văn minh sẽ trở thành các chiến tuyến trong tương lai.” (Samuel P. Huntington, “The Clash of Civilizations” [“Sự đụng độ giữa các nền văn minh”]. In trong: The Geopolitics Reader [edited by Gearóid ó Tuathail, Simon Dalby and Paul Routledge], Nxb. Routledge, London – New York, 1998, tr. 159.) Như vậy, mặc dù đầu đề bài báo có dấu chấm hỏi để làm ra vẻ có sự hoài nghi về khả năng đụng độ, nhưng lập luận của Samuel Huntington cho thấy sự đụng độ là không thể tránh khỏi. Và Huntington tuyên bố: “Xung đột giữa các nền văn minh sẽ là giai đoạn cuối cùng của tiến trình xung đột trong thế giới hiện đại.” (Samuel P. Huntington, bài đã dẫn, tr. 159.)
Đến năm 1996, Huntington đã phát triển quan điểm của bài viết nói trên và xuất bản thành một cuốn sách mang tên "Sự đụng độ giữa các nền văn minh và việc sắp xếp lại trật tự thế giới". Dựa trên tiêu chuẩn văn hoá-tôn giáo, Huntington phân ra 7 nền văn minh chủ yếu cộng với một nền văn minh khả dĩ. Đó là: 1. Văn minh phương Tây, tập trung vào Ôstrâylia, Bắc Mỹ và Tây Âu; 2. Văn minh Mỹ Latin, gồm Trung Mỹ và Nam Mỹ; 3. Văn minh chính giáo phương Đông, gồm khu vực thuộc Liên Xô cũ (trừ Trung Á) và phần lớn Đông Âu; 4. Văn minh Hán, gồm Trung Quốc, bán đảo Triều Tiên, Singapor, Đài Loan, Việt Nam; 5. Văn minh Hindu, gồm Ấn Độ, Nêpal; 6. Văn minh Nhật Bản; 7. Văn minh Hồi giáo, gồm Trung Đông, Tây Phi, một số nước Nam và Đông-Nam Á; 8. Văn minh khả dĩ Cận Sahara ở Nam Phi, Trung Phi, Đông Phi.
Ngoài ra có những quốc gia có sự pha trộn giữa các nền văn minh, nên không được Huntington xếp riêng vào một nền văn minh chủ chốt nào trong số 8 nền văn minh nói trên. Thậm chí có những nước không thuộc một nền văn minh nào và được Huntington coi là những quốc gia “cô độc”, ví dụ như Êthiôpia, Haiti và đặc biệt là Israel.
Theo GS. TS. Zotov (Nga), quan điểm của Huntington cũng có một cơ sở thực tế. Ông cho rằng “Một trong những hiện tượng xã hội chủ đạo ở cuối thế kỷ XX là xu thế phi thế tục hoá thế giới, tức là sự phục sinh tôn giáo sau xu thế ‘vô thần’ của thời kỳ từ thế kỷ XVII đến nửa đầu thế kỷ XX. ‘Sự phục thù của Chúa Trời’ đó thường diễn ra dưới hình thức các phong trào nguyên giáo [tiếng Anh: fundamentalism] mang tính chiến đấu, không khoan nhượng với các tôn giáo khác. Tôn giáo chia rẽ con người ta còn mạnh hơn là nguồn gốc sắc tộc, dân tộc. Một người có thể là nửa Pháp, nửa Arập, và thậm chí có thể là công dân của cả hai quốc gia đó. Nhưng làm một tín đồ nửa Công giáo và nửa Hồi giáo thì phức tạp hơn rất nhiều.” (V. D. Zotov, “Các nền văn minh thế kỷ XXI – xung đột và chiến tranh hay đối thoại và hợp tác?”, SGZ, 2004, số 3, tr. 27-41 [tiếng Nga; bản dịch tiếng Việt của Viện Thông tin KHXH, in trên bản tin Tài liệu phục vụ nghiên cứu, TN 2006 – 12 & 13, Ngô Tuy Phước dịch].)
Quả thực đây là một thực tế rất đáng để ý. Thế giới nửa cuối thế kỷ XX là thế giới của thời đại toàn cầu hoá. Trong thời đại toàn cầu hoá này, con người có xu hướng trở thành công dân toàn cầu, một người có thể có từ 2 đến 3 quốc tịch. Thế nhưng cái xu hướng toàn cầu hoá đó lại chủ yếu là xuất phát từ phương Tây, từ các nước có nền văn minh tiên tiến. Vì thế nó lại dẫn đến một phản ứng ngược lại: đó là xu hướng khẳng định quyền được khác biệt, khẳng định bản sắc của một cộng đồng. Và, bởi vì trong cái thế giới toàn cầu hoá này, mọi cái đều có thể có sự giao thoa, kể cả tính sắc tộc, thì cái yếu tố bản sắc tôn giáo lại tỏ ra là có tính bền vững nhất: người ta khó chấp nhận – nếu không nói là không thể chấp nhận – một người thờ hai Chúa. Cho nên, Zotov rất có lý khi nhận xét rằng một người có thể có hai quốc tịch, nhưng một người cùng theo hai tôn giáo một lúc thì quả là khó tin.
Chính vì thế mà Huntington đã căn cứ vào tôn giáo để phân biệt ra các nền văn minh. Và có lẽ bởi vì ông cũng quan niệm rằng một người không thể thờ hai Chúa, cho nên ông đã lấy tôn giáo làm cơ sở để đưa ra lý thuyết về sự đụng độ giữa các nền văn minh.
Tuy nhiên cũng còn có một thực tế nữa là mặc dù một người không thể thờ hai Chúa, nhưng các Đức Chúa vẫn có thể hoà hợp với nhau, các tín đồ thuộc các tôn giáo khác nhau vẫn có thể sống chung với nhau. Truyền thống khoan dung của loài người đã tồn tại từ rất lâu. Ngay ở nước ta, chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã từng nói đại ý là nếu còn sống, các vị Thích Ca, Jêsu, Các Mác và Tôn Dật Tiên cũng có thể ngồi cùng một bàn với nhau. Ngoài ra, đối với người dân hiện đại, rất nhiều người không còn có một ý thức tôn giáo rõ ràng và lòng tín ngưỡng của họ cũng rất mờ nhạt. Cho nên, tôn giáo, về bản chất không phải là có tính xung đột lẫn nhau. Mà tất cả những vụ xung đột mang màu sắc tôn giáo đều là do động cơ kinh tế và chính trị. Thậm chí còn có cả động cơ cá nhân mà các tín đồ chỉ là những người bị lợi dụng. Trong tinh thần này, một giáo sư nhân chủng học người Hoa Kỳ tên là John R. Bowen cho rằng bản tính của tộc người không phải là xung đột, tức là mọi tộc người trên thế giới sinh ra không phải là để xung đột nhau; rằng xung đột không phải là do có sự khác nhau về văn hoá; mà xung đột chỉ xảy ra do ý đồ chính trị của các cá nhân, đảng phái. (John R. Bowen, “The Myth of Global Ethnic Conflict” [“Ảo tưởng về xung đột sắc tộc toàn cầu”], Journal of Democracy, Oct. 1996, Vol. 7, No. 4.)
Điều này cũng đúng với cả trường hợp tôn giáo. Chúng tôi cho rằng các tôn giáo có thể mâu thuẫn nhau về một số khía cạnh nào đó, nhưng để đi đến xung đột thì phải có một động cơ và một ngọn cờ chính trị hoặc kinh tế. Tám cuộc thập tự chinh ở Trung Đông diễn ra từ năm 1095 đến năm 1291 thực chất là một cuộc tranh giành miền đất thánh ở Trung Đông giữa Đế quốc Hồi giáo Thổ Nhĩ Kỳ với Đế quốc Bizantium [hay Đế quốc La Mã phương Đông]. Cuộc tàn sát đêm Thánh Barthelemy năm 1572 đàn áp tín đồ đạo Tin Lành ở Pháp chỉ là cái cớ để vua Pháp loại bỏ đô đốc Coligny, người đang ủng hộ cuộc nổi loạn của Hà Lan chống lại ách đô hộ của Tây Ban Nha hồi bấy giờ. Động cơ thực sự của các cuộc tấn công vừa qua của Bin Laden vào nước Mỹ nhân danh thế giới Hồi giáo, theo nhà nghiên cứu người phương Tây gốc Hồi giáo Fouad Ajami, là do chúng tức giận vì không lật đổ được trật tự cai trị hiện hành của những nước A Rập nằm trong vòng ảnh hưởng của Hoa Kỳ. (Theo R. J. Lieber và R. E. Weisbergy, “Globalization, Culture, and Identities in Crisis” [“Toàn cầu hoá, văn hoá và khủng hoảng bản sắc”], International Journal of Politics, Culture and Society, Vol. 16, No. 2, Winter 2002, http://germany.usembassy.de/events/fachleiter/faculty2003.htm.) Tuy nhiên, vì tôn giáo là một lĩnh vực văn hoá liên quan đến một vùng thế giới tinh thần rất nhạy cảm của con người là tâm linh, cho nên nó rất dễ bị kích động và dễ gây ảo tưởng. Xuất phát từ một ý đồ chính trị, cả những người trong cuộc lẫn những người đứng ngoài đều dễ đi đến chỗ có ấn tượng về một sự xung đột tôn giáo. Và đôi khi những người trong cuộc đi đến chỗ trấn áp các tôn giáo khác và họ hành động như những kẻ bảo vệ tôn giáo của mình.
Vì thế, mặc dù quan điểm của Huntington được nhiều người đồng tình, nhưng nó cũng nhận được không ít những ý kiến phản đối. Đặc biệt là UNDP đã cho rằng đây là một quan điểm theo thuyết quyết định luận văn hoá, một lý thuyết tuyệt đối hoá vai trò của văn hoá mà bỏ qua các yếu tố quyết định khác. UNDP cũng như nhiều học giả và các nhà hoạt động văn hoá khác cho rằng loài người phải thực hiện đối thoại văn hoá thì thế giới mới có hoà bình và ổn định. Trong tinh thần đó, những bài phát biểu của Tổng thống nước Cộng hoà Hồi giáo Iran S. M. Khatami, được công bố dưới dạng một tập sách có nhan đề Trong con người kết tụ cả tâm hồn phương Đông lẫn lý tính phương Tây đã tỏ ra có ý nghĩa rất to lớn. Chính ông đã có sáng kiến để LHQ tuyên bố lấy năm 2001 là Năm Đối thoại giữa các nền văn minh. Ngày 9-11-2001, Đại Hội đồng LHQ đã thông qua nghị quyết về Chương trình nghị sự chủ yếu để đối thoại giữa các nền văn minh. Tất cả những điều đó cho thấy đề án của Khatami đã được quốc tế công nhận. (Xem V. D. Zotov, “Các nền văn minh thế kỷ XXI – xung đột và chiến tranh hay đối thoại và hợp tác?”, nguồn đã dẫn.)
Tóm lại, địa chính trị văn hoá đang là một trong những xu hướng địa chính trị ngày nay. Nó đã được những kẻ cực đoan và những kẻ đầu cơ chính trị lợi dụng để phát động những cuộc chiến tranh hoặc chí ít là những cuộc khủng bố nhằm mục đích chia lại thế giới về mặt địa chính trị. Đây là xu hướng nguy hiểm gây bất ổn thế giới và có nguy cơ dẫn loài người đi đến những thảm hoạ. Vì thế, nhiệm vụ của các nhà khoa học địa chính trị nói riêng và loài người tiến bộ nói chung phải đấu tranh để thiết lập một chủ trương thường xuyên đối thoại văn hoá để phát huy thế mạnh của địa chính trị văn hoá nhằm phục vụ cho sự tiến bộ của nhân loại.
Hình minh hoạ:
SỰ PHÂN BỐ CÁC NỀN VĂN MINH TRÊN THẾ GIỚI THEO HUNTINGTON
Chú thích: 1. Xanh lam thẫm: phương Tây; 2. Xanh lam nhạt: chính giáo phương Đông; 3. Xanh lá cây: Hồi giáo; 4. Nâu: châu Phi Cận Sahara; 5. Tím: Mỹ Latin; 6. Đỏ: Hán; 7. Da cam: Hindu; 8. Màu vàng: Phật giáo; 9. Màu đỏ gạch: Nhật Bản; 10. Nâu nhạt: những nước “cô độc” và không thuộc văn minh chủ chốt. (Nguồn: http://history.club.fatih.edu.tr/...; Nguồn trung gian: Wikipedia).](https://scontent-b-hkg.xx.fbcdn.net/hphotos-xpf1/t1.0-9/q71/s480x480/10421179_340379782782573_1761750615547144594_n.jpg)